Chăm sóc sức khỏe gan

Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất của bạn và cần thiết cho sự sống, giống như tim và phổi của bạn. Công việc chính của gan là giúp chế biến các chất dinh dưỡng từ thực phẩm sau khi tiêu hóa (còn gọi là chuyển hóa), trước khi chúng được chuyển tới phần còn lại của cơ thể và để loại bỏ độc tố. Gan kiểm soát nồng độ chất béo, cholesterol và glucose, dự trữ sắt và các vitamin tan trong chất béo, và chuyển hóa các loại thuốc và các hóa chất khác như rượu. Các vấn đề bắt đầu xuất hiện khi gan suy yếu, không thể chuyển hóa các chất dinh dưỡng từ chế độ ăn giàu chất béo, đường, thịt (và rượu).

Gan suy yếu vì tổn thương tế bào gan gây ra bởi stress oxy hóa và viêm. Điều này làm cho các tế bào gan chuyển hóa các chất dinh dưỡng kém hiệu quả hơn, đặc biệt là các chất béo trong chế độ ăn và sản xuất mật kém hơn (chất tự nhiên hòa tan chất béo). Điều này dẫn đến cholesterol cao và tăng cân. Các tế bào gan tự nó cũng bắt đầu dự trữ quá nhiều mỡ (gọi là gan nhiễm mỡ) [1]. Trong khi tổn thương tế bào gan đã được cho là do độc tính của rượu, ngày nay, các nguyên nhân không do rượu đã trở thành nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh gan trên toàn thế giới, chủ yếu là do bệnh béo phì. Nó cũng là một yếu tố nguy cơ cho bệnh tim.

Rất may gan có khả năng hồi phục đáng kể, và các vấn đề về gan cũng như các biến chứng thứ phát cũng có thể phòng ngừa. Bằng cách nào? Bằng cách làm chậm sự tiến triển, thường xảy ra qua nhiều tháng hoặc nhiều năm. Điều này có nghĩa là tạo ra một số thay đổi cơ bản, tương tự như những gì bạn có thể làm để phòng ngừa bệnh tim mạch, bao gồm: giảm thiểu lượng chất béo bão hòa, đường tinh chế, protein và natri ăn vào; dùng thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên (trái cây, rau, quả hạch, hạt giống …) và kiểm soát lượng rượu, thuốc lá và các chất độc đưa vào cơ thể. Mặc dù những thay đổi này có thể nói dễ hơn là làm và thường do bác sĩ của bạn đề nghị, lựa chọn cách tiếp cận tự nhiên hơn đối với chế độ ăn uống và lối sống có thể rất có lợi cho sức khoẻ nói chung và sức khoẻ tinh thần tổng thể, không chỉ là sức khoẻ của gan.

Thành phần Osmiltin
Phosphatidylcholine
Phosphatidylcholine (PC) là một chất béo cần thiết cho gan (chất béo “tốt”), nó rất quan trọng cho chức năng của tế bào gan, đồng thời giúp vận chuyển tất cả các chất béo và cholesterol trong máu [2]. Trong bệnh gan, các tế bào bị tổn thương có nồng độ PC dạng oxy hóa cao hơn [4] (dấu hiệu của tổn thương oxy hoá). Có bằng chứng dấy lên cho rằng việc bổ sung PC có thể khôi phục tổn thương gan bằng cách thay thế PC dạng oxy hóa. Một cuộc thử nghiệm lâm sàng nhỏ trên những bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ, do chứng nghiện rượu kinh niên, phát hiện thấy những người uống bổ sung đa sinh tố chứa PC cho thấy có cải thiện chức năng gan [5]. Trong một thử nghiệm khác ở Nhật Bản, một mẫu 6 bệnh nhân bị bệnh gan nặng dùng chiết xuất giàu PC có nguồn gốc từ trứng cá hồi làm tăng đáng kển nồng độ HDL (cholesterol “tốt”) và apolipoprotein, và cho thấy sự phục hồi một phần chức năng của tế bào gan [6]. Mức HDL cải thiện cũng có thể có tác dụng bảo vệ đối với chức năng tim mạch nói chung.

Ngũ vị tử (Schisandra) và Actiso (globe artichoke)
Được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền Trung Quốc, quả Schisandra chinensis có tính chống viêm và chống oxy hóa mạnh [7] [8] [9] và giảm đáng kể sự tích lũy chất béo và phản ứng stress trong tế bào gan [10]. Trong một thử nghiệm lâm sàng cho những bệnh nhân bị bệnh gan cận biên, những người được điều trị bằng chiết xuất Schisandra trong 5 tháng đã giảm đáng kể men gan trong huyết thanh, tăng các chất chống oxy hoá trong tuần hoàn và cải thiện các dấu hiệu siêu âm trong tổn thương gan [11].

Actiso (Cynara scolymus) được sử dụng rộng rãi hơn trong y học cổ truyền châu Âu. Lá của nó có chứa axit phenolic [12] kích thích dòng chảy mật trong gan [13], giảm lượng chất béo trong tuần hoàn và điều hòa nồng độ cholesterol [14] [15]. Một thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu tác dụng của chiết xuất lá actisô chuẩn hóa ở 73 bệnh nhân bị cholesterol máu cao [16] trong 12 tuần, kết quả cho thấy nhóm dùng actiso giảm cholesterol tổng thể xuống 6% khi so sánh với nhóm dùng giả dược.

Các vi chất dinh dưỡng khác
Có một số vitamin và các nguyên tố vi lượng hỗ trợ sức khoẻ gan, với một loạt các mục tiêu cụ thể, bao gồm (i) bảo vệ tế bào gan, và (ii) điều chỉnh cân bằng cholesterol và lipid. Về sau, amino acid taurine đã được đề xuất là có lợi cho chuyển hóa cholesterol [17]. Trong một nhóm nhỏ các bệnh nhân ở Đài Loan bị viêm gan C mãn tính, bệnh nhân được điều trị với taurine cho thấy cải thiện các marker gan, cải thiện cholesterol và axit béo và giảm nồng độ các marker stress oxy hóa trong máu [18]. Bổ sung taurine dưới dạng bột cũng làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc gan nhiễm mỡ ở trẻ em béo phì [19].

Các vitamin nhóm B: acid folic, pyridoxin (vitamin B6) và cyanocobalamin (vitamin B12)
Chúng có nhiều lợi ích trong việc chống lại stress oxy hóa và tích lũy lipid trong tế bào gan [20] [21] [22] [23]. Một số nghiên cứu cho thấy những người bị gan nhiễm mỡ có vấn đề về chế độ folate [24] và giảm nồng độ B12 [25] [26] so với người khỏe mạnh, do đó có cơ sở để đưa các vitamin này vào liệu pháp điều trị phối hợp. Hiệu quả bảo vệ cũng được cung cấp bởi tác dụng chống oxy hoá của vitamin E [27] và selen [29] [30] dựa trên sự thiếu hụt sau này, và glutathione, cùng với tổn thương oxy hóa ở gan. Các lợi ích khác được cung cấp bởi vitamin D3 [31]- một chất chống oxy hoá và chống viêm, cũng như là một phần của nguồn cung cấp tại chỗ vitamin D cho các mô khác.

Tổng kết
Có hy vọng đáng kể về vấn đề dinh dưỡng cho những người bị bệnh gan, và để duy trì sức khoẻ của gan nói chung, đặc biệt là trong thời kỳ stress nặng và gặp những vấn đề về ăn uống. Nếu độc tính của gan đã được loại trừ, việc bổ sung vitamin tổng hợp như Osmiltin – sản phẩm dựa trên sự kết hợp giữa trí tuệ y học cổ truyền và các vi chất dinh dưỡng đã được xác định về mặt hoá học có thể sẽ tiếp tục tăng lên.

Tài liệu tham khảo
Cohen, JC et al 2011. Science, 332(6037):1519-1523.
Gundermann, KJ et al. 2016. Clin Exp Gastroenterol 9:105-17.
Vance DE 2008 Curr Opin Lipidol. Jun;19(3):229-34.
Ikura Y et al., 2006. Hepatology. Mar;43(3):506-14.
Turecky, L., et al., 2003. Bratisl Lek Listy,. 104(7-8):227-31.
Hayashi H., et al. 1999. Curr Med Res Opin. 15(3):177-84.
Wang, R., et al., 2007. Chin Med, 2: p5.
Chiu, P.Y., et al., 2003. Free Rad. Biol. Chem. 35(4):368-380.
Chu J et al., 2011 World J Gastroenterol. May 21;17(19):2379-88.
Jang MK et al., 2016 Ethnopharmacol. Jun 5;185:96-104.
Chiu, H.-F., et al., , 2013 Phytotherapy Research. 27(3):368-373.
Salem, M.B., et al., 2015. Plant Foods for Human Nutrition. 70(4):441-453.
Rondanelli, M., et al., 2013. Monaldi Arch Chest Dis 80(1):17-26.
Kraft, K., 1997. Phytomedicine, 4(4):369-378
Gebhardt, R., 1998. J Pharmacol Exper Therap 286(3):1122-1128.
Bundy, R., et al., 2008. Phytomedicine,15(9): p. 668-675.
Chen, W., J.-X. Guo, and P. Chang, 2012. Molecular Nutrition & Food Research,. 56(5):681-690.
Hu, H.Y., et al., 2008. Amino Acids, 35(2): p. 469-473.
Obinata, K., et al., 1996. Adv Exp Med Biol, 403: p. 607-13.
Lei, W., et al., 2015. PLoS ONE, 10(7): p. e0130421.
Torres, L., et al., 1999. Biochimica et Biophysica Acta 1455(1): p. 12-22.
Aissa, A.F., et al., 2014. Molecular Nutrition & Food Research, 58(7): p. 1502-1512.
Berge, R.K., et al., 2016. Lipids in Health and Disease. 15(1): p. 1-16.
Dai, Y., et al., , 2016. J Clin Biochem Nutrition 58(1): p. 76-83.
de Carvalho, S.C.R., et al., 2013. Nutrition Journal, 12(1): p. 1-5.
Gulsen, M., et al., 2005. J Gastroenterol Hepatol, 20(9): p. 1448-1455.
Sanyal , A.J., et al., 2010. New England Journal of Medicine, 362(18): p. 1675-1685.
Klyarytskaya IL et al 2015. Eksp Klin Gastroenterol;(7):12-7.
Petrovski, B.É., et al., 2012. Journal of Trace Elements in Medicine and Biology, 26(1): p. 31-35.
Rua, R.M., et al., 2014. Life Sciences, 94(2): p. 158-163.
Sharifi, N., et al., 2014. Endocrine 47(1):70-80.

You may also like...