Thành phần cấu tạo

Phosphatidylcholine

Phosphatidylcholine (PC) là một phospholipid thiết yếu (EPL), then chốt đối với quá trình biệt hóa, tăng trưởng của tế bào, sự vận chuyển lipid, cholesterol và quá trình tái tạo tế bào [5]. Ở gan, PC (cùng với các phospholipid khác) đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tính toàn vẹn của xấp xỉ 300 tỉ màng tế bào gan. Phosphatidylcholine tạo ra tính linh hoạt của màng và đây là một yếu tố quyết định trong việc điều hòa hoạt tính sinh học của gan [6]. Lecithin chiết xuất từ sữa đậu nành là nguồn PC dồi dào [6].

Cơ chế tác dụng

Ngoại trừ nguyên nhân do chế độ ăn, nghiện rượu, hội chứng chuyển hóa/đái tháo đường hoặc các nguyên nhân khác, tổn thương màng tế bào gan là một đặc điểm phân biệt, được đặc trưng bởi giảm nồng độ phospholipid, thay đổi kết cấu phospholipid cũng như giảm tính lưu động của màng [4]. Trong những trường hợp nặng, giảm tính lưu động của màng có thể dẫn đến sai sót trong quá trình tổng hợp/thoái hóa collagen, thúc đẩy sự tiến triển của chứng xơ hóa và cuối cùng là xơ gan [6]. Tác dụng bảo vệ tế bào gan của EPL được chứng minh trong 25 thử nghiệm in vitro và 145 thử nghiệm in vivo trên 43 mô hình với 8 loài động vật [4], trong đó có một vài nghiên cứu về tác dụng của EPL trên bệnh gan do rượu [6].
Bằng chứng khoa học

Hình 3: Tính toàn vẹn của tế bào gan khi điều trị bằng EPL. 3 tháng điều trị bằng EPL đã cải thiện đáng kể hoạt tính xúc tác của ALT, AST và GMT huyết thanh, biểu hiện của sự tái tạo và bảo vệ tính toàn vẹn của tế bào gan ở bệnh nhân bị AFLD. Số liệu được biểu diễn dưới dạng trung bình ± SEM. *P < 0,05 và #P < 0,01 so với “Trước khi điều trị bằng EPL”. ALT: alanine aminotransferase, AST: aspartate aminotransferase, GMT: gamma glutamyltransferase. 

Trong một thử nghiệm lâm sàng nhỏ, nhãn mở (n = 71) được tiến hành trên bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ được kiểm tra mô bệnh liên quan đến nghiện rượu mạn tính (AFLD) để đánh giá hiệu quả của EPL. Bệnh nhân bị AFLD được cho uống 600 mg EPL 3 lần/ngày (1800 mg/ngày) trong vòng 3 tháng dưới dạng viên nang Essentiale® Forte. So với giá trị trung bình ban đầu, bệnh nhân bị AFLD đã làm giảm đáng kể nồng độ các enzyme gan trong huyết thanh như ALT (↓ 28%, P < 0,05), AST (↓ 32%, P < 0,05) và GMT (↓ 150%, P < 0,01) sau 3 tháng điều trị bằng EPL, từ đó cải thiện tính toàn vẹn của tế bào gan và chức năng gan nói chung [7]. Tương tự, trong một thử nghiệm nhãn mở, bệnh nhân bị NAFLD do nhiều nguyên nhân khác nhau (n = 324) được điều trị bằng EPL (1800 mg/ngày) trong vòng 6 tháng, sau đó điều trị với liều 900 mg/ngày trong vòng 1 năm, cho thấy sự cải thiện rõ rệt nồng độ ALT và AST huyết thanh và giảm mức độ nặng của bệnh NAFLD (một số trường hợp được giải quyết triệt để) về vấn đề tích lũy lipid trong gan [8]. Nhìn chung, kết quả của các thử nghiệm lâm sàng kể trên đã hỗ trợ cho việc sử dụng EPL trong điều trị AFLD và NAFLD, đầu tiên là bởi tác dụng khôi phục lớp phospholipid kép của màng tế bào, khôi phục tính linh động của màng và thúc đẩy tái tạo tế bào gan.


Schisandra chinensis

Schisandra chinensis (S. chinensis) được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền Trung Hoa để điều trị nhiều loại rối loạn chức năng gan và để giải độc gan [9]. Hoạt chất mang lại tác dụng dược lý Quả của cây Schisandra chinensis chứa nhiều lignan như schisandrin, gomisin A, schisandrin A (deoxyschisandrin), schisandrin B (γ-schisandrin) và wuweizisu C. Những hoạt chất này có tác dụng bảo vệ gan, chống viêm và điều chỉnh miễn dịch [9].

Cơ chế tác dụng
S. chinensis được cho là tác nhân thích nghi và chất chống oxy hóa thông qua trung gian schisandrin B (Sch B), là hoạt chất có hàm lượng cao nhất [10]. Sch B hoạt động theo cơ chế thích nghi bằng cách tăng nồng độ nội bào của các protein bảo vệ nhiệt, đây là các protein cần thiết cho mọi tế bào (kể cả tế bào gan) để duy trì chức năng sinh lý trong điều kiện stress do nhiều nguyên nhân khác nhau kể cả do các chất các chất oxy hóa [11]. Sch B thể hiện khả năng chống oxy hóa trong tế bào gan thông qua việc điều hòa hoạt động của glutathione, một yếu tố điều hòa quan trọng, đáp ứng lại tình trạng mất cân bằng oxy hóa tế bào [11]. Trong các nghiên cứu khác, Sch B có thể ngăn ngừa sự tổng hợp và tích lũy lipid trong gan cũng như ức chế con đường dẫn đến xơ hóa và viêm [12].
Bằng chứng khoa học
Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, kiểm soát có đối chứng (n = 40), bệnh nhân ở ranh giới suy giảm chức năng gan (được định nghĩa có sự tăng nhẹ nồng độ ALT và AST huyết thanh) được điều trị bằng S. chinensis trong vòng 5 tháng [13]. Kết quả cả nồng độ ALT và AST đều giảm đáng kể sau nghiên cứu ở nhóm bệnh được điều trị bằng S. chinensis (P < 0,05) cùng với việc giảm sự xuất hiện của gan nhiễm mỡ, cho thấy sức khỏe gan được cải thiện rõ rệt. Các dấu hiệu này không quan sát thấy ở nhóm chứng bệnh [13]. Ngoài ra, S. chinensis còn chứng minh được vai trò chống oxy hóa khi làm giảm đáng kể tổng số các gốc tự do và anion superoxide ở bệnh nhân được điều trị (xem Hình 4) (P < 0,05) [13].

Hình 4: Nồng độ gốc tự do trong máu. Bổ sung S. chinensis trong 5 tháng dẫn đến giảm không ng.g nồng độ tổng số gốc tự do. Điều này không quan sát thấy ở nhóm chứng. Kết quả được biểu dưới dạng giá trị trung bình ± SEM. *P < 0,05 so với Baseline; †P < 0,05 so với 2 tháng. Theo Chiu và cộng sự năm 2013 [10]. 

Cyanara scolymus – Globe Artichoke 

Cynara scolymus, còn có tên thường gọi là acti-sô, nổi tiếng trong thực đơn của miền Địa Trung Hải cũng như trong y học cổ truyền châu Âu [4, 15]. GA được trồng ở châu Âu nhiều thế kỷ qua, từ thế kỷ thứ 4 trước công nguyên. Trong khi lá trong và đài hoa được sử dụng như một nguồn thực phẩm thì lá ngoài lại chứa nhiều  hoạt chất có tác dụng chữa bệnh [14, 15]. Theo quan điểm truyền thống, GA làm tăng sản xuất và bài tiết mật, bảo vệ gan khỏi các độc tố. Thêm vào đó, các nghiên cứu hiện đại chỉ ra rằng cao chiết lá GA có thể hỗ trợ cân bằng lipid, chống viêm và là nguồn cung cấp các chất chống oxy hóa [14].
Hoạt chất mang lại tác dụng dược lý
Lá GA chứa các axit phenolic như: axit quinic, axit chlorogenic, axit cafeic và cynarin [14].
Cơ chế tác dụng
Mật được sản xuất tại gan theo cơ chế mà theo đó lipid được bài tiết ra khỏi cơ thể [16]. Theo đó, khi sự sản xuất và bài tiết mật được kích thích bởi cao chiết GA, cả nồng độ lipid ở gan và huyết thanh đều giảm [16]. Tác dụng làm giảm nồng độ lipid máu, oxy hóa LDL [17] và quá trình sinh tổng hợp cholesterol mới (de novo) ở tế bào gan [18] có thể đến từ hoạt động chống oxy hóa của các hợp chất flavonoid.
Bằng chứng khoa học
Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, kiểm soát có đối chứng đã khám phá ra tác dụng của cao chiết lá GA đã được tiêu chuẩn hóa lên nồng độ lipid huyết thanh ở bệnh nhân tăng nhẹ cholesterol máu (n = 73) [19]. Sử dụng 320 mg cao chiết nước trong vòng 12 tuần làm giảm ở mức độ vừa phải nhưng có ý nghĩa thống kê (P = 0,025) nồng độ cholesterol toàn phần trong máu 6,1% so với nhóm chứng (Hình 5) [19].


Hình 5: Nồng độ cholesterol toàn phần máu. Cao chiết lá A-ti-sô (ALE) làm giảm 6,1% nồng độ cholesterol toàn phần, có ý nghĩa thống kê (P = 0,025) so với nhóm chứng. Số liệu được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình ± SEM. Theo nghiên cứu của Bundy và cộng sự năm 2008 [16].
Rondanelli và cộng sự [20] cũng đã tiến hành một nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng để đánh giá tác dụng của 250 mg cao chiết lá GA đã được tiêu chuẩn hóa lên nồng độ HDL (n = 92) tương tự như nghiên cứu của Bundy và cộng sự năm 2008 [19]. Sau 8 tuần, cao chiết lá GA làm tăng rõ rệt nồng độ HDL (P < 0,001) và giảm rõ rệt nồng độ cholesterol toàn phần trong huyết thanh (P = 0,012) so với nhóm chứng [20]. Các nghiên cứu khác cung cấp bằng chứng cho thấy sử dụng GA có thể phòng ngừa sự tiến triển của bệnh trên mô hình in vivo theo cơ chế chống oxy hóa. Ví dụ, trên mô hình chuột bị gây bệnh gan thông qua mất cân bằng oxy hóa, GA thể hiện khả năng hỗ trợ chống oxy hóa, ngăn ngừa sự peroxy hóa lipid và hỗ trợ trong việc sửa chữa tổn thương ADN [18]. Tương tự như vậy, điều trị trước bằng cao chiết lá GA phòng ngừa sự thay đổi hình thái học của gan, suy giảm chức năng gan và giảm sự tổn thương do oxy hóa liên quan đến độc tính gan do paracetamol trên mô hình chuột [22]. Nhìn chung, các dữ liệu thực nghiệm và lâm sàng cho thấy GA có tác dụng hỗ trợ bảo vệ tế bào gan thông qua việc hỗ trợ cân bằng lipid và cholesterol, chống oxy hóa cho tế bào gan.

Taurine


Taurine là một amino axit có nhiều ở trong gan thông qua quá trình tổng hợp nội sinh và vận chuyển ngoại sinh, thường bị giảm trong các bệnh lý về gan [23]. Vai trò chủ
yếu của taurine ở gan là liên hợp với axit mật để thải trừ sau đó, mặc dù taurine cũng có vai trò quan trọng đối với sự ổn định của màng tế bào máu, hiệu quả chống oxy hóa và giải độc [23].

 

Cơ chế tác dụng
Một phân tích gần đây đã nêu bật 3 cơ chế được đề xuất của taurine trong việc điều hòa cân bằng lipid và cholesterol trong hệ thống tuần hoàn và gan [24]:
1. Taurine làm giảm bài tiết apoB và VLDL khỏi gan, làm tăng thanh thải cholesterol bằng cách tăng khả năng gắn với thụ thể của LDL, dẫn đến hấp thu nhiều hơn LDL vào gan.
2. Taurine kích thích sự tạo thành axit mật từ cholesterol thông qua enzyme CYP7A1.
3. Taurine làm tăng đào thải axit mật qua phân.
Các nghiên cứu khác đã đưa ra giả thuyết taurine có thể phòng ngừa tổn thương gây ra bởi các gốc oxy hoạt hóa được tạo ra bởi hoạt động của CYP2E1 trong các tế bào gan [23]. CYP2E1 được tìm thấy tăng trong các bệnh về gan như AFLD và NAFLD [23].
Bằng chứng khoa học
Kết quả nghiên cứu trên một nhóm nhỏ bệnh nhân người Đài Loan mắc viêm gan virus C mạn tính (n = 24) cho thấy hấp thu 2 g taurine 3 lần hàng ngày trong vòng 3 tháng giúp tăng cường chức năng gan [25]. Bệnh nhân được điều trị bằng taurine có nồng độ AST và ALT giảm đáng kể (P < 0,05), dấu hiệu của sự cải thiện tính toàn vẹn của tế bào gan, giảm có ý nghĩa thống kê nồng độ cholesterol và triglyceride huyết thanh (P < 0,05) cùng với các dấu hiệu (marker) của sự mất cân bằng oxy hóa (TBARS, P < 0,05) so với giá trị ban đầu [25]. Các kết quả tương tự không quan sát thấy ở nhóm chứng, dẫn đến khả năng taurine có thể cải thiện sự thanh thải lipid và làm giảm sự mất cân bằng oxy hóa, từ đó cải thiện chức năng gan ở bệnh nhân bị bệnh viêm gan mạn tính. Hơn nữa, bổ sung 2-6 g taurine (dạng bột) làm giảm đáng kể sự phổ biến của gan nhiễm mỡ ở trẻ em béo phì (n = 10) cũng như nồng độ ALT gần trở về bình thường, ngay cả khi không quản lý cân nặng [26].

Vitamin E & Selenium


Vitamin E và selenium là các chất chống oxy hóa mạnh, bảo vệ tế bào tránh bị tổn thương gây ra bởi các gốc tự do. Có 8 dạng tồn tại tự nhiên của vitamin E, trong đó có 4 hợp chất tocopherol và 4 hợp chất tocotrienol, α-tocopherol là chất chiếm tỉ lệ nhiều nhất và có tác dụng chống oxy hóa mạnh. Selenium là một nguyên tố vi lượng thiết yếu được tạo ra trong cơ thể người thông qua chế độ ăn (từ selenomethione). Selenomethione (một amino axit) được biết đến là chất có sinh khả dụng cao nhất so với các muối khác thường được bổ sung.

Cơ chế tác dụng
Vitamin E thể hiện hoạt tính chống oxy hóa thông qua việc ngăn ngừa sự peroxy hóa lipid, ngăn ngừa sự thoái hóa lipid ở màng tế bào gây ra bởi các gốc tự do. Từ đó, vitamin E có khả năng duy trì tính toàn vẹn của màng tế bào gan, tức là duy trì cấu trúc và chức năng bình thường của chúng [27]. Selenium rất quan trọng cho việc tổng
hợp vô số các selenoprotein kể cả những protein tham gia vào điều hòa mất cân bằng oxy hóa trong cơ thể [28]. Glutathione peroxidase (GPx) là enzyme chịu trách nhiệm bảo vệ màng tế bào chống lại sự peroxy hóa lipid với cơ chế tương tự như vitamin E [28]. Không chỉ thế, selenium còn cần thiết đối với thioredoxin reductase, enzyme
đóng vai trò duy trì sự cân bằng oxy hóa khử trong tế bào [28].

Bằng chứng khoa học

Thử nghiệm lâm sàng PIVENS là một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng đã nghiên cứu tác dụng của việc bổ sung vitamin E (800 IU/ngày, n = 80) trong vòng 96 tháng (~2 năm) trên 274 bệnh nhân bị bệnh viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH) [29, 30]. Kết quả chỉ ra việc bổ sung vitamin E cải thiện rõ rệt mô bệnh NASH cũng như giảm đáng kể nồng độ ALT, AST và GMT so với nhóm chứng (P < 0,025) [30]. Các phân tích chuyên sâu hơn cho thấy vitamin E có thể cung cấp tác dụng bảo vệ gan song song với việc giảm cân [29]. Thiếu hụt selenium được quan sát thấy ở các bệnh nhân nam bị bệnh gan ở Hungary (n = 281) và điều này có thể liên quan đến mức độ tổn thương gan (được xác định về mặt hóa sinh) [31]. Ở những bệnh nhân bị bệnh gan do rượu (n = 27), nồng độ selenium huyết thanh giảm mạnh so với nhóm chứng khỏe mạnh (P < 0,001) và điều này có thể liên quan đến sự giảm đáng kể nồng độ GPx huyết thanh [32]. Bởi vậy, các kết quả này có thể hướng tới khả năng bổ sung selenium có thể hỗ trợ chống oxy hóa và giúp bảo vệ cấu trúc và chức năng gan ở bệnh nhân bị bệnh gan do dùng quá nhiều rượu.

Axit folic, Vitamin B6 & Vitamin B12

Các vitamin nhóm B cần thiết cho quá trình tổng hợp và sửa chữa ADN cũng như tham gia vào chu trình methyl hóa. Chế độ ăn bình thường có thể cung cấp đủ các vitamin B, cơ thể thường bị thiếu vitamin B khi mắc chứng nghiện rượu mạn tính và/hoặc chế độ ăn nghèo dinh dưỡng.

Cơ chế tác dụng
Axit folic, vitamin B6 và vitamin B12 là các đồng tố quan trọng đối với chức năng bình thường của chu trình methyl hóa, bao gồm điều hòa sản xuất amino axit, homocysteine. Sự thiếu hụt các vitamin này làm “gián đoạn” các quá trình trên, dẫn đến tích lũy homocysteine. Tăng nồng độ homocysteine có liên quan đến sự tiến triển của gan nhiễm mỡ và viêm gan nhiễm mỡ. Một số thử nghiệm đã chỉ ra cơ chế có thể thúc đẩy sự tiến triển của chứng xơ hóa gan [33, 34], mất cân bằng oxy hóa [35] và/hoặc tích lũy lipid ở gan [36].
Bằng chứng khoa học
Một phân tích meta gần đây với 8 nghiên cứu lâm sàng cho thấy bệnh nhân bị NAFLD đã được sinh thiết (n = 397) có xu hướng ức chế sự tăng nồng độ homocysteine (SMD: 0,66 µmol/L 95% CI: 0,41- 0,92 µmol/L) so với nhóm chứng khỏe mạnh (n = 538) [34]. Các tác giả cũng báo cáo sự khác biệt rõ hơn trong nồng độ homocysteine ở những bệnh nhân bệnh nhân có tiến triển bệnh gan tốt hơn [37]. Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra mối liên quan tiêu cực giữa nồng độ viamin B12 và nồng độ homocysteine ở các bệnh nhân NAFLD [38, 39]. Cùng với các kết quả thử nghiệm trên động vật, các bằng chứng lâm sàng trên đã chỉ ra một cách chắc chắn về việc bổ sung các vitamin nhóm B, axit folic, vitamin B6 và vitamin B12 có thể hỗ trợ phòng ngừa sự tiến triển của bệnh gan và bảo vệ gan khỏi tổn thương do oxy hóa, sự tích lũy lipid nhiều hơn do tăng nồng độ homocysteine.

Vitamin D


Vitamin D bao gồm các hợp chất sterol tan trong dầu như: alfaclidole, calcifediol, cholecalciferol, calcitrol và ergocalciferol. Cholecalciferol là dạng tìm thấy tự nhiên của vitamin D, được hình thành trong các tế bào da của động vật có vú khi tiếp xúc với tia UV.

Cơ chế tác dụng
Calcitrol (một dạng chuyển hóa của cholecalciferol) tương tác với thụ thể của vitamin D trong tế bào gan để kích thích sản xuất các enzyme giải độc và hỗ trợ điều hòa bài tiết mật và nội cân bằng lipid [40]. Sự hoạt hóa hệ thống thụ thể của vitamin D có thể ức chế sự hoạt hóa các quá trình dẫn đến xơ hóa trong các tế bào gan hình sao cũng như thúc đẩy quá trình chống viêm và chống oxy hóa (tổng quan chi tiết [40, 41]).
Bằng chứng khoa học
Trong một nghiên cứu lâm sàng mù đôi, kiểm soát có đối chứng (n = 53), cung cấp 50.000 IU vitamin D3 mỗi 14 ngày (~3500 IU/ngày) trong vòng 4 tháng giúp làm giảm đáng kể nồng độ tuần hoàn của các dấu hiệu gây viêm và mất cân bằng oxy hóa ở bệnh nhân bị bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) (P < 0,002), không có sự cải
thiện đáng kể nào về nồng độ enzyme gan [42]. Kết quả trên có thể hướng tới khả năng bổ sung vitamin D có thể hữu ích trong việc hỗ trợ điều trị NAFLD mà không cải thiện trực tiếp NAFLD. Dù vậy, thời gian điều trị có thể quá ngắn để nhận thấy bất kì lợi ích rõ rệt nào trên chức năng gan [41].
TÓM TẮT
GIÚP BẢO VỆ CHỨC NĂNG GAN VÀ SỨC KHỎE
Osmiltin chứa các thảo dược S. chinensis và globe artichoke kết hợp với taurine giúp tăng cường bài tiết mật, hỗ trợ vận chuyển lipid và cholesterol khỏi gan, cung cấp các chất chống oxy hóa để chống lại sự tấn công của gốc tự do và hỗ trợ giải độc gan. Osmiltin chứa phosphatidylcholine, vitamin E và selenium giúp duy trì tính toàn vẹn của tế bào gan. Do đó, Osmiltin có tác dụng bảo vệ chức năng gan và sức khỏe nói chung.
HỖ TRỢ CÂN BẰNG LIPID VÀ CHOLESTEROL
Với sự kết hợp của Globe artichoke, taurine và các vi chất dinh dưỡng, Osmiltin giúp tăng cường bài tiết mật để vận chuyển lipid và cholesterol khỏi gan đồng thời cân bằng nồng độ lipid huyết thanh. Taurine làm tăng hấp thu lipid từ hệ thống tuần hoàn vào gan, do đó hỗ trợ thêm cho sự cân bằng lipid và cholesterol.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cohen, J.C., J.D. Horton, and H.H. Hobbs, Human Fatty Liver Disease: Old Questions and New Insights. Science, 2011. 332(6037): p. 1519- 1523.
2. Levene, A.P. and R.D. Goldin,
The epidemiology, pathogenesis and histopathology of fatty liver disease. Histopathology, 2012. 61(2): p. 141-152.
3. Noureddin, M., J.M. Mato, and S.C. Lu,
Nonalcoholic fatty liver disease: Update on pathogenesis, diagnosis, treatment and the role of S-adenosylmethionine. Experimental Biology and Medicine, 2015. 240(6): p. 809-820.

4. Rinella, M.E., Nonalcoholic fatty liver disease: A systematic review. JAMA, 2015. 313(22): p. 2263-2273.
5. Gundermann, K.J., et al.,
Essential phospholipids in fatty liver: a scientifc update. Clin Exp Gastroenterol, 2016. 9: p. 105-17.
6. Gundermann, K.J., et al.,
Activity of essential phospholipids (EPL) from soybean in liver diseases. Pharmacol Rep, 2011. 63(3): p. 643-59.
7. Turecky, L., et al.,
Plasma lipid parameters in patients with alcoholic fatty liver after treatment with essential phospholipids. Bratisl Lek Listy, 2003. 104(7-8): p. 227-31.
8. Dajani, A.I.M., et al.,
Essential phospholipids as a supportive adjunct in the management of patients with NAFLD. Arab Journal of Gastroenterology, 2015. 16(3–4): p. 99 104.
9. Wang, R., et al.,
A survey of Chinese herbal ingredients with liver protection activities. Chin Med, 2007. 2: p. 5.
10. Asea, A., et al.,
Evaluation of molecular chaperons Hsp72 and neuropeptide Y as characteristic markers of adaptogenic activity of plant extracts. Phytomedicine, 2013. 20(14): p. 1323-1329.
11. Chiu, P.Y., et al.,
Hepatoprotective mechanism of schisandrin B: role of mitochondrial glutathione antioxidant status and heat shock proteins. Free Radical Biology and Medicine, 2003. 35(4): p. 368-380.
12. Kwan, H.Y., et al.,
Lipidomic-based investigation into the regulatory effect of Schisandrin B on palmitic acid level in non-alcoholic steatotic livers. Sci Rep, 2015. 5: p. 9114.
13. Chiu, H.-F., et al.,
Improvement of Liver Function in Humans Using a Mixture of Schisandra Fruit Extract and Sesamin. Phytotherapy Research, 2013. 27(3): p. 368-373.
14. Salem, M.B., et al.,
Pharmacological Studies of Artichoke Leaf Extract and Their Health Benefts. Plant Foods for Human Nutrition, 2015. 70(4): p. 441-453.
15. Braun, L. and M. Cohen,
Herbs & natural supplements: an evidencebased guide. 2nd Edition ed2007, Marrickville, N.S.W.: Elsevier Australia.
16. Rondanelli, M., et al.,
Health-promoting properties of artichoke in preventing cardiovascular disease by its lipidic and glycemic-reducing action. Monaldi Arch Chest Dis, 2013. 80(1): p. 17-26.
17. Kraft, K., Artichoke leaf extract —
Recent fndings reflecting effects on lipid metabolism, liver and gastrointestinal tracts. Phytomedicine, 1997. 4(4): p. 369-378.
18. Gebhardt, R.,
Inhibition of Cholesterol Biosynthesis in Primary Cultured Rat Hepatocytes by Artichoke (Cynara scolymus L.) Extracts. Journal of Pharmacology and Experimental Therapeutics, 1998. 286(3): p. 1122-1128.
19. Bundy, R., et al.,
Artichoke leaf extract (Cynara scolymus) reduces plasma cholesterol in otherwise healthy hypercholesterolemic adults: A randomized, double blind placebo controlled trial. Phytomedicine, 2008. 15(9): p. 668-675.
20. Rondanelli, M., et al.,
Benefcial effects of artichoke leaf extract supplementation on increasing HDL-cholesterol in subjects with primary mild hypercholesterolaemia: a double-blind, randomized, placebo-controlled trial. International Journal of Food Sciences and Nutrition, 2013. 64(1): p. 7-15.
21. Colak, E., et al.,
The hepatocurative effects of Cynara scolymus L. leaf extract on carbon tetrachloride-induced oxidative stress and hepatic injury in rats. SpringerPlus, 2016. 5(1): p. 1-9.
22. El Morsy, E.M. and R. Kamel,
Protective effect of artichoke leaf extract against paracetamol-induced hepatotoxicity in rats. Pharmaceutical Biology, 2015. 53(2): p. 167-173.
23. Miyazaki, T. and Y. Matsuzaki,
Taurine and liver diseases: a focus on the heterogeneous protective properties of taurine. Amino Acids, 2014. 46(1): p. 101-110.
24. Chen, W., J.-X. Guo, and P. Chang, T
he effect of taurine on cholesterol metabolism. Molecular Nutrition & Food Research, 2012. 56(5): p. 681-690.
25. Hu, H.Y., et al.,
Dietary amino acid taurine ameliorates liver injury in chronic hepatitis patients. Amino Acids, 2008. 35(2): p. 469-473.
26. Obinata, K., et al.,
Effect of taurine on the fatty liver of children with simple obesity. Adv Exp Med Biol, 1996. 403: p. 607-13.
27. Traber, M.G. and J. Atkinson,
Vitamin E, antioxidant and nothing more. Free Radical Biology and Medicine, 2007. 43(1): p. 4-15.
28. Kieliszek, M. and S. Błażejak,
Selenium: Signifcance, and outlook for supplementation. Nutrition, 2013. 29(5): p. 713-718.
29. Hoofnagle, J.H., et al.,
Vitamin E and changes in serum alanine aminotransferase levels in patients with non-alcoholic steatohepatitis. Alimentary Pharmacology & Therapeutics, 2013. 38(2): p. 134-143.
30. Sanyal , A.J., et al., Pioglitazone,
Vitamin E, or Placebo for Nonalcoholic Steatohepatitis. New England Journal of Medicine, 2010. 362(18): p. 1675-1685.
31. Petrovski, B.É., et al.,
Selenium levels in men with liver disease in Hungary. Journal of Trace Elements in Medicine and Biology, 2012. 26(1): p. 31-35.
32. Rua, R.M., et al.,
Serum selenium levels and oxidative balance as differential markers in hepatic damage caused by alcohol. Life Sciences, 2014. 94(2): p. 158-163.
33. Lei, W., et al.,
Homocysteine Induces Collagen I Expression by Downregulating Histone Methyltransferase G9a. PLoS ONE, 2015. 10(7): p. e0130421.
34. Torres, L., et al.,
Induction of TIMP-1 expression in rat hepatic stellate cells and hepatocytes: a new role for homocysteine in liver fbrosis. Biochimica et Biophysica Acta (BBA) – Molecular Basis of Disease, 1999. 1455(1): p. 12-22.
35. Aissa, A.F., et al.,
Effect of methionine-defcient and methioninesupplemented diets on the hepatic one-carbon and lipid metabolism in mice. Molecular Nutrition & Food Research, 2014. 58(7): p. 1502- 1512.
36. Berge, R.K., et al.,
Tetradecylthiopropionic acid induces hepatic mitochondrial dysfunction and steatosis, accompanied by increased plasma homocysteine in mice. Lipids in Health and Disease, 2016. 15(1): p. 1-16.
37. Dai, Y., et al.,
Association of homocysteine level with biopsy-proven non-alcoholic fatty liver disease: a meta-analysis. Journal of Clinical Biochemistry and Nutrition, 2016. 58(1): p. 76-83.
38. de Carvalho, S.C.R., et al.,
Plasmatic higher levels of homocysteine in Non-alcoholic fatty liver disease (NAFLD). Nutrition Journal, 2013. 12(1): p. 1-5.
39. Gulsen, M., et al.,
Elevated plasma homocysteine concentrations as a predictor of steatohepatitis in patients with non-alcoholic fatty liver disease. Journal of Gastroenterology and Hepatology, 2005. 20(9): p. 1448-1455.
40. Dongiovanni, P., et al.,
Nutritional therapy for nonalcoholic fatty liver disease. The Journal of Nutritional Biochemistry, 2016. 29: p. 1-11.
41. Li, J., et al.,
The Role of Vitamins in the Pathogenesis of Non-alcoholic Fatty Liver Disease. Integr Med Insights, 2016. 11: p. 19-25.
42. Sharif, N., et al.,
Does vitamin D improve liver enzymes, oxidative stress, and inflammatory biomarkers in adults with non-alcoholic fatty liver disease? A randomized clinical trial. Endocrine, 2014. 47(1): p. 70-80. disease? A randomized clinical trial. Endocrine, 2014. 47(1): p. 70-80.